PHIM TRONG TUẦN

Phim truyện 7 giờ 00 : 

    Nợ tình

Phim truyện VN 7 giờ 45 : 

   Tỷ phú tưng

Phim truyện 11  giờ : 

    Chuyện của Ren 

Phim truyện 12  giờ :

    Quí phu nhân

Phim truyện 14 giờ : 

  Tân thần điêu đại hiệp 

Phim truyện VN 16 giờ : 

    Sỏi đá cũng biết yêu

Phim truyện 18 giờ : 

      Vương giả Thanh Phong

Phim truyện 20 giờ  40 : 

       Thiên thần báo thù

Phim truyện VN 21 giờ 30 : 

       Hợp đồng scandal

  TIN ĐỌC NHIỀU NHẤT
  VIDEO CLIP XEM NHIỀU NHẤT
  TỶ GIÁ NGOẠI TỆ
                    THÔNG TIN THỜI TIẾT
Hiện tại
°C
Độ ẩm: %
Gió: không xác định,
Mặt trời mọc:
Mặt trời lặn:
Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược ở nước ta hiện nay
Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược có vai trò đặc biệt quan trọng trong toàn bộ công tác cán bộ của Đảng. Vì vậy, chăm lo xây dựng cán bộ cấp chiến lược phải được xem là trọng tâm trong công tác cán bộ. Muốn vậy, cần phải nhận diện được các đặc điểm, phát hiện các mâu thuẫn và đề xuất phương thức giải quyết mâu thuẫn, tìm động lực cho cán bộ cấp chiến lược phát triển, xứng đáng với vị thế, trách nhiệm trong toàn bộ sự nghiệp đổi mới.

Quan niệm và đặc điểm cán bộ cấp chiến lược

Cán bộ cấp chiến lược là bộ phận nằm ở thượng đỉnh của tháp nhân sự, giữ các vị trí trọng yếu mang tính quyết định toàn cục sự nghiệp cách mạng. Bản thân từ “chiến lược” đã nói lên tầm quan trọng đặc biệt của cán bộ cấp chiến lược. Xét về mặt ngữ nghĩa của từ “chiến lược” thì “chiến” là “đánh trận”, “lược” là “nét chính”, “trọng yếu”, tức là bộ phận chính, trọng yếu, dù là số ít nhưng có vai trò quyết định toàn cục (sự nghiệp cách mạng của đất nước), cục diện chiến tranh (trong cuộc chiến). Không phải ngày nay chúng ta mới nêu khái niệm cấp chiến lược, mà trong quan chế nhà nước phong kiến cũng đã có sự phân chia thành quân vương và quần thần. Có thể hiểu, quân vương là lãnh đạo cấp chiến lược, còn quần thần là lãnh đạo cấp chiến thuật. Còn việc xác định cán bộ cấp chiến lược gồm các chức danh do Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý (610 người) là một cách thức xét theo chủ thể quản lý cán bộ. Khái niệm cán bộ cấp chiến lược được sử dụng để phân biệt với cán bộ cấp chiến thuật, cán bộ cấp trung, cán bộ cấp cơ sở, những người có nhiệm vụ cụ thể hóa, thừa hành, triển khai các quyết định lãnh đạo, quản lý của cán bộ cấp chiến lược, thường chỉ giới hạn ở phạm vi một tổ chức thứ cấp, một đơn vị, địa phương, cộng đồng. 

Vai trò của cán bộ cấp chiến lược do vị trí, vị thế, trách nhiệm của nó quy định. Cán bộ cấp chiến lược tạo thành bộ phận thuộc cơ cấu nhân sự thượng đỉnh của tổ chức, có chức năng hoạch định các quyết sách chiến lược cho toàn Đảng, toàn dân tộc; lập trình kế hoạch chiến lược để tối ưu hóa khả năng thực thi các quyết sách chiến lược; thu nhận, phân tích, xử lý, tổng hợp hóa các thông tin phản hồi từ đối tượng lãnh đạo - quản lý để hiệu chỉnh, thay đổi các quyết sách chính trị. Cán bộ chiến lược là bộ phận làm thành trụ cột, thống lĩnh toàn bộ đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị và đất nước, có tính đại diện cho thể chế cầm quyền. Có thể nhận thấy mấy đặc điểm sau đây của đội ngũ cán bộ cấp chiến lược: 

Tuy là số ít, nhưng đội ngũ cán bộ này là bộ phận tinh hoa, nắm các vị trí then chốt, trọng yếu của hệ thống chính trị và đất nước, mang tính đại diện cho thể chế, hầu hết là những người đứng đầu đất nước, ngành, địa phương. 

Ở vị trí thượng đỉnh của cấu trúc truyền lực, cán bộ cấp chiến lược có vai trò quyết định đến sự sống còn, thành bại của Đảng, của đất nước, của sự nghiệp cách mạng, nên mọi quyết định và hoạt động của đội ngũ cán bộ này đều mang ý nghĩa chiến lược. 

Khách thể chi phối hoạt động lãnh đạo - quản lý của cán bộ cấp chiến lược mang tính chất rộng về mặt không gian, dài hạn về mặt thời gian, đa dạng và phức tạp về nội dung, thay đổi thường xuyên do áp lực của khách thể rộng lớn, tính bất định cao, khó lường của bối cảnh.

Sản phẩm “đầu ra” của cán bộ cấp chiến lược là đường lối, chủ trương, chính sách tầm chiến lược nên chủ thể hoạch định phải có những phẩm chất, giá trị, tố chất, năng lực tương ứng.

Là bộ phận thượng đỉnh của tháp nhân sự, thường có khoảng cách với quần chúng, với thực tế ở cơ sở, chủ yếu là lãnh đạo - quản lý gián tiếp thông qua trung gian, nên cán bộ cấp chiến lược phải có phương pháp, công cụ, cách thức lãnh đạo tương ứng mới thường xuyên duy trì được quan hệ với đời sống thực tế ở cơ sở, với quần chúng, hạn chế tình trạng quan liêu hóa. 

Nắm quyền hành lớn trong phân bổ các nguồn lực và phúc lợi, nếu cán bộ cấp chiến lược liêm chính, công tâm, khách quan sẽ tạo nên khả năng phát triển; còn nếu cá nhân chủ nghĩa, cục bộ, lợi ích nhóm, thì sẽ làm cho việc phân bổ nguồn lực và phúc lợi trở nên méo mó, sai lệch, kém hiệu quả, lãng phí, gây nên tham nhũng từ quyền lực, nên phải có cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu dụng và có chế độ, chính sách đãi ngộ đặc biệt tương ứng với đóng góp của họ. 

Ba mâu thuẫn trong xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược ở nước ta hiện nay và vài gợi ý về phương thức giải quyết mâu thuẫn

Thứ nhất, mâu thuẫn giữa tính rộng dài, phức hợp, thay đổi của khách thể lãnh đạo - quản lý với tính giới hạn của năng lực chủ quan. 

Biểu hiện cụ thể là: 1- Không gian lãnh đạo - quản lý không bó hẹp ở một địa bàn mà ở tầm vĩ mô toàn quốc, toàn ngành với sự đan xen giữa yếu tố dân tộc và quốc tế, ngành và liên ngành, vùng và liên vùng; địa phương và quốc gia; 2- Thời gian thuộc đối tượng lãnh đạo không chỉ là cái có thể trực quan, mà cả tương lai mang tính dài hạn, chỉ có thể nhận thức được bằng dự báo xu hướng dựa trên dữ liệu quá khứ và hiện tại; 3- Khách thể lãnh đạo - quản lý là những vấn đề mang tính phức hợp liên vùng, liên ngành, liên quốc gia; 4- Không gian càng rộng, nội dung càng phong phú với nhiều lĩnh vực, thời gian càng dài, thì tính bất định càng cao, khi lĩnh vực này chịu tác động của lĩnh vực khác, tình hình trong nước chịu áp lực của bối cảnh quốc tế,... gây khó khăn cho nhận diện và dự báo tình hình, khả năng nắm bắt cơ hội để tạo nên đột phá chiến lược hoặc biến thách thức thành cơ hội. 

Vì vậy, nếu cán bộ cấp chiến lược chỉ với năng lực thông thường không thể đủ khả năng bao quát không gian trải rộng, tầm nhìn dài hạn, nhận diện tổng thể - hệ thống, đặc biệt là khả năng lãnh đạo và quản trị sự thay đổi, vượt qua các thách thức, tranh thủ các cơ hội để tạo nên các đột phá chiến lược cho phát triển. Để hóa giải mâu thuẫn trên đây, rõ ràng, cán bộ cấp chiến lược phải có một năng lực tương ứng, có thể nhận thấy ở mấy điểm sau đây: 

Phải có tư duy chiến lược sắc bén đủ khả năng bao quát và lý giải quy luật, xu hướng của khách thể rộng lớn, phức tạp; thấu hiểu bản chất vấn đề trước mọi sự thay đổi để quản trị sự thay đổi mà không trở thành nạn nhân của thay đổi; dự báo được xu hướng tương lai dù không phải lúc nào cũng có được đầy đủ thông tin; có bản lĩnh đối mặt, chịu áp lực và năng lực vượt qua các thách thức; nhạy bén nắm bắt cơ hội và biến thách thức thành cơ hội, tạo ra các đột phá chiến lược. Nói ngắn gọn, cán bộ cấp chiến lược phải có tư duy chiến lược, được phân biệt với tư duy chiến thuật chỉ nhìn vấn đề ngắn hạn, phạm vi nhỏ hẹp, đơn giản. Năng lực đó cơ bản được hình thành, phát triển, rèn luyện qua đào tạo với cơ chế, phương thức đặc biệt, gồm cả đào tạo lý thuyết và đào tạo qua trải nghiệm thực tế, đào tạo và tự đào tạo. Năng lực đó không thể có những người lười biếng học tập, coi thường lý luận, không có năng lực tổng kết thực tiễn. Khác với học tập qua sách vở của người nghiên cứu chuyên nghiệp hay học tập bằng trực quan thực tế của cán bộ cấp chiến thuật, cán bộ cấp chiến lược phải có cách thức học tập khác, đó là học tập kiến tạo - kiểu học tập suốt đời, tự học tập là chính dựa trên nền tảng kiến thức lý luận cơ bản mà định hình cách thức học tập cho riêng mình, từ học tập qua sách vở, học tập qua chuyên gia, học tập qua thực tế, học tập ở nhân dân, học tập từ tổng kết thành công hay thất bại trong cuộc sống hằng ngày của mình, của người khác, của đời sống... được đưa ra phân tích, mổ xẻ, đúc kết thành lý luận. 

Phải có năng lực phản biện, bất cứ một vấn đề nào cả về mặt lý thuyết và thực tiễn đặt ra đều được lật đi, lật lại để khi xử lý mặt này không bỏ qua mặt kia, khi chủ trì ngành này nhưng không hy sinh lợi ích các ngành khác, khi đứng trên lợi ích dân tộc nhưng phải tính toán đầy đủ các yếu tố quốc tế. Phản biện còn làm cho tư duy luôn năng động, sáng tạo không ngừng, ít bị bó buộc vào tư duy cũ kỹ. Năng lực phản biện cần cho mọi cán bộ, nhưng cán bộ cấp chiến thuật chủ yếu thừa hành nên phản biện là để tìm biện pháp, cách thức triển khai có hiệu quả; còn phản biện của cán bộ cấp chiến lược liên quan đến hoạch định đường lối, chủ trương nên thiếu phản biện không thể có đường lối sáng tạo, khó tạo nên đột phá cho phát triển đất nước, ngành, địa phương. Phản biện bao gồm cả phản biện cái hiện tồn, các phương án được người khác hay tập thể đưa ra và phản tư (phản biện với chính mình). Phản biện xem cái hiện tồn có gì hợp lý, có gì không hợp lý, vì sao mà chúng tồn tại hay cần phải thay đổi; phản biện ý kiến người khác đòi hỏi phải có bản lĩnh, chủ kiến, tăng cường khả năng lập luận của bản thân, nhờ đó mà tư duy không ngừng đổi mới, làm cho cái bất hợp lý trong ý kiến của người khác, của tập thể được phát hiện và phải thay đổi; phản tư là xem xét lại chính mình, nhất là có cái đúng hôm qua nhưng hôm nay không còn giá trị, cần phải thay đổi. Phản tư xuất phát từ tính trễ của nhận thức chủ quan trong khi hiện thực khách quan luôn vận động, biến đổi không ngừng; não trạng của con người khi vận hành thường nghiêm khắc với khuyết điểm của người khác nhưng lại dễ dãi với khuyết điểm của chính mình. 

Năng lực tổ chức chiến lược bảo đảm cho các yếu tố “đầu vào” hình thành chủ trương chiến lược cũng như sản phẩm “đầu ra” được thực thi trong thực tiễn, không dừng lại ở chủ trương. Cán bộ cấp chiến lược lãnh đạo - quản lý chủ yếu thông qua cấp trung gian, từ thu thập thông tin “đầu vào” cho ban hành quyết định đến tổ chức triển khai các chủ trương, quyết sách chiến lược. Để bảo đảm cho quyết định chính trị luôn sáng suốt, đúng đắn thì phải tổ chức hệ thống cung ứng, thu nhận và xử lý thông tin rất rộng lớn, phức hợp, đa dạng. Muốn vậy, cán bộ cấp chiến lược phải biết sử dụng người tài và trung thực dưới quyền của mình, biết sử dụng think tank (đội ngũ chuyên gia có trình độ cao, các tổ chức tư vấn để hỗ trợ cho những người ra quyết định chính sách giải quyết những vấn đề mà họ phải đương đầu) để luôn truy cầu ý tưởng mới, sáng tạo. Sử dụng cán bộ dưới quyền không trung thực thì các thông tin truyền tải đến bộ phận thượng đỉnh bị sai lệch, người ra quyết định dễ rơi vào chủ quan, duy ý chí, sai lầm khi hoạch định chiến lược. Ngoài ra, cán bộ cấp chiến lược còn phải biết định ra hệ thống kiểm định thông tin để báo cáo từ cấp dưới luôn được sàng lọc, chính xác hóa, phân biệt được đâu là thực hay đâu là ảo, phát hiện cái có giá trị trong giải giáp ranh giữa thực và ảo. Trong điều kiện ngày nay, phải biết sử dụng công nghệ thông tin để thu thập thông tin và tương tác với thế giới, bổ sung và kiểm định thông tin phản hồi có được qua bộ máy trung gian. Đó là chỉ mới đề cập đến tổ chức chiến lược ở khâu “đầu vào” phục vụ cho hoạch định chiến lược. Còn khâu quan trọng khác là lập trình chiến lược toàn bộ các ý tưởng, đường lối, chủ trương đã hoạch định để chúng được thực hiện một cách tối ưu. Các ý tưởng, đường lối, chủ trương của cán bộ cấp chiến lược phải thông qua cấp trung gian mà đến với cơ sở và người dân. Lập trình khoa học mới bảo đảm cho các ý tưởng, chủ trương được hiện thực hóa, nếu không chúng vẫn chỉ nằm trên giấy. Ở đây rất cần đến khả năng lựa chọn người thừa hành trung thành, trung thực, mẫn cán và nhất là năng lực tổ chức triển khai các ý tưởng, các nhiệm vụ. Trung thành và trung thực bảo đảm cho ý tưởng đúng đắn giữ được phương hướng trong vận hành để đạt tới mục tiêu cuối cùng, không bị chệch hướng, lệch pha. Tinh thần mẫn cán và năng lực bảo đảm cho ý tưởng của cán bộ chiến lược được cấp dưới thực hiện có hiệu quả, nhất quán, đặc biệt là xử lý những tình huống xuất hiện trong quá trình thực hiện các ý tưởng không phải lúc nào cũng thuận lợi. Vì vậy, để bảo đảm cho tư duy chiến lược đúng đắn được thực hiện mang tính dài hạn, cán bộ chiến lược phải có quyền và khả năng lựa chọn được người kế tục sự nghiệp, không làm cho các chiến lược bị đứt gãy, gián đoạn, rơi vào tư duy nhiệm kỳ. 

Năng lực tạo lập giá trị sống, cống hiến và truyền cảm hứng đối với đồng chí, đồng nghiệp, dân chúng, bạn bè quốc tế về các giá trị mà mình đã cam kết và theo đuổi. Cán bộ cấp chiến lược có một chức năng quan trọng là đại diện cho thể chế. Một hành vi rất nhỏ của cán bộ cấp chiến lược có thể truyền cảm hứng đến không chỉ cộng sự trực tiếp mà còn đến cả người dân, bạn bè quốc tế qua hình ảnh truyền thông. Người ta có thể đo được khá chính xác tình cảm, sự ngưỡng mộ của công chúng đối với các chính khách về đức thanh liêm, chính trực, vô tư, dấn thân, hy sinh, dù họ chưa một lần gặp gỡ trực tiếp. Ngược lại, người ta cũng có thể làm hò vè kiểu tiếu lâm chính trị để chế giễu, đả kích những trường hợp ngược lại. Điều đó cho thấy, một nhà lãnh đạo cấp chiến lược luôn phải biết tính giới hạn của truyền lực qua bộ máy thể chế, cần phải bổ sung thêm cách sử dụng quyền lực mềm, truyền cảm hứng và gây ảnh hưởng bằng giá trị mà mình đã cam kết và theo đuổi. Muốn vậy, cán bộ cấp chiến lược phải tạo lập nên giá trị, lẽ sống một cách tường minh, được công bố, cam kết trước dân chúng và hành động một cách nhất quán. Sử dụng các phương tiện truyền thông để chuyển tải các thông điệp, giá trị, lẽ sống, hành động thông qua lời nói và hành vi của mình là rất quan trọng. Tất nhiên, đó không phải nhằm mục đích “đánh bóng”, “lăng xê” tên tuổi mà để truyền tải giá trị và khát vọng cống hiến đến dân chúng, do khoảng cách không gian, thời gian hoặc bộ máy quan liêu mà nhiều giá trị ban đầu bị khúc xạ. Các giá trị đó được kết tinh trong đạo đức công vụ và đạo đức đời thường, trong hành vi thường nhật, trong chương trình hành động cam kết ở các buổi lễ nhậm chức, trong thông điệp chính trị hằng năm, trong những cử chỉ rất nhỏ nhặt nhưng được công chúng chú ý, nhất là khi nó đụng đến những phẩm cách, như đức thanh liêm, chí công, dấn thân, hy sinh gắn với mục tiêu, lý tưởng mà người cán bộ cam kết theo đuổi. Trong thời đại toàn cầu hóa, các giá trị đó còn phải biết chia sẻ, gây ảnh hưởng quốc tế để tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế đối với sự nghiệp chính nghĩa, đúng đắn của mình. 

Hai là, mâu thuẫn giữa duy trì tính ổn định tương đối của hệ thống với tạo ra các đột phá chiến lược cho phát triển, giữa thay đổi và quản trị sự thay đổi. 

Cán bộ cấp chiến lược là bộ phận thượng đỉnh của bộ máy, những người đại diện cho thể chế cầm quyền, dẫn dắt nhân dân theo các mục tiêu lý tưởng đã lựa chọn và cam kết. Đội ngũ này hoạch định chiến lược, nếu chiến lược đúng đắn sẽ giữ vững phương hướng cách mạng, nếu sai lầm sẽ dẫn tới bất ổn, rối loạn, thậm chí sụp đổ cả một thể chế nhà nước. Duy trì ổn định được hiểu không phải duy trì trạng thái đứng yên, trì trệ, thụ động, mà là trạng thái phát triển trong hài hòa, không gây nên các rối loạn của hệ thống. Vì vậy, trách nhiệm trong lãnh đạo - quản lý của cán bộ cấp chiến lược là duy trì tính ổn định tương đối của hệ thống, mà cốt lõi là giữ vững bản chất của chế độ chính trị. Muốn vậy, đội ngũ này phải được đào tạo lý luận chính trị cơ bản để thật sự thấm nhuần sâu sắc và hành động một cách tự giác theo mục tiêu lý tưởng, luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh - một sự kiên định dựa trên niềm tin khoa học. 

Mặt khác, cán bộ cấp chiến lược phải có khả năng nắm bắt cơ hội và biến thách thức thành cơ hội để tạo ra đột phá chiến lược. Tư duy đột phá của cán bộ các cấp đều quan trọng, nhưng đối với cán bộ cấp chiến lược liên quan đến khả năng phát triển và tiền đồ của dân tộc, thì tư duy này càng cần phải được coi trọng đặc biệt. Tư duy và năng lực đột phá không đến với những người an phận thủ thường, làm theo nếp cũ hay lo “an toàn” cho bản thân. Đột phá chiến lược cũng không phải là làm ẩu, làm bừa, “liều lĩnh” mà phải có cơ sở khoa học và căn cứ thực tiễn. Những người có tư duy đột phá bao giờ cũng là số ít, nên họ dễ trở thành nạn nhân của sự đột phá, nếu số đông không đồng tình, không ủng hộ, không chia sẻ, chống đối. Vì vậy, người có tư duy đột phá cần phải có năng lực thuyết phục tập thể, thuyết phục cấp trên về tính khả thi của phương án đột phá bằng luận cứ khoa học và thực tiễn, bằng bảo đảm sinh mệnh chính trị của chính mình; phải biết sử dụng truyền thông để tạo dư luận, thăm dò phản ứng xã hội đối với các phương án khi còn ở dạng dự kiến. Tất cả điều đó góp phần tạo ra tình thế cho thời cơ chiến lược xuất hiện và khi thời cơ chiến lược đến thì đủ bản lĩnh chớp thời cơ và hành động một cách dũng cảm, dứt khoát, không do dự. Tạo lực, lập thế, tranh thời là những tố chất cần có của người lãnh đạo cấp chiến lược. Không làm được điều đó, các ý tưởng đột phá chiến lược không chuyển hóa thành năng lực đột phá chiến lược, bỏ lỡ các cơ hội phát triển hoặc để các thách thức ngày càng lớn lên tạo sức ép đối với đất nước và chế độ.

Tư duy đột phá phải gắn liền với tư duy hệ thống. Đứng giữa muôn vàn “hỗn độn” của khách thể tương tác đa chiều, giữa nhiều khả năng phải lựa chọn, phải xác định được điểm đột phá để tập trung quyết tâm chính trị cao nhất và dồn mọi nguồn lực cho triển khai thắng lợi. Điểm cần đột phá chiến lược chính là điểm then chốt, nếu được khai thông, mọi cái khác sẽ được giải quyết theo nguyên lý “tự động”. Tư duy đột phá khác với tư duy “rải mành mành” kiểu “gai mít” vì tham vọng quá nhiều mục tiêu mà phân tán nguồn lực, không cho phép tập trung được ý chí và nguồn lực cho điểm then chốt, đến lượt nó sẽ thất bại các ý đồ đột phá chiến lược.

Muốn giữ vững ổn định tương đối trong đột phá, vấn đề cơ bản là phải kiên định mục tiêu và thực hiện đột phá một cách có đạo đức, có lương tri. Khi đã có luận cứ khoa học vững chắc thì đạo đức, lương tri sẽ giữ thăng bằng cho đột phá chiến lược vận động theo phương hướng đúng đắn, là cái bảo đảm cho tập thể ủng hộ, đồng tình. Tập thể không thể “đặt cược” niềm tin vào những người không chắc chắn, đem lại các nguy cơ rủi ro, nhất là khi thiếu được bảo đảm về mặt đạo đức của người khởi xướng. Trên thực tế, không phải lúc nào cũng đủ căn cứ khoa học thuyết phục tập thể chấp thuận các ý tưởng đột phá, mà trong rất nhiều trường hợp người ta đặt niềm tin bởi đạo đức, nhân cách của người khởi xướng vốn đã được kiểm nghiệm trong thực tiễn trước đó. 

Tư duy đột phá luôn muốn thay đổi cái cũ kỹ, lạc hậu, kìm hãm sự phát triển, nhưng kèm theo đó phải có năng lực quản trị sự thay đổi. Bởi bất kỳ sự thay đổi nào cũng hàm chứa trong nó nguy cơ rủi ro, đổ vỡ, gây xáo trộn hệ thống hiện tồn. Nó thường làm cho những người được hưởng lợi từ cơ chế hiện tồn và những người an phận thủ thường, ngại đổi mới chống đối, bất hợp tác. Do đó, tư duy đột phá nhằm tạo ra thay đổi hiện tồn phải đi kèm với năng lực quản trị sự thay đổi. Năng lực đó thể hiện trước hết ở khả năng thuyết phục đa số về tính khả thi của phương án thay đổi mà không đem đến rủi ro. Điều không kém phần quan trọng là lập trình được quá trình thay đổi, bảo đảm cho đột phá chiến lược diễn ra trong trật tự, dự phòng được mọi rủi ro và kiểm soát rủi ro. Cán bộ cấp chiến lược còn phải có năng lực thích ứng nhanh chóng trước mọi sự thay đổi, bởi trong thế giới ngày nay rất khó dự báo chính xác. Năng lực thích ứng ở đây không phải là thích nghi của cá thể sống trước môi trường biến đổi theo kiểu tiến hóa luận trong giới tự nhiên mà là khả năng đưa ra các quyết định nhạy bén, linh hoạt phù hợp với bối cảnh, môi trường thay đổi. Năng lực thích ứng không đến với những người kém nền tảng lý luận, tri thức, văn hóa và độ trải nghiệm. Vì vậy, trang bị đủ tri thức lý luận, kiến thức, vốn sống cho cán bộ cấp chiến lược là cơ sở quan trọng cho tăng cường năng lực thích ứng của cán bộ trước biến đổi khó lường của thời cuộc.

Ba là, mâu thuẫn giữa kiểm soát quyền lực, phòng ngừa tha hóa quyền lực với tạo không gian cho cán bộ cấp chiến lược đổi mới, sáng tạo, có khả năng đột phá chiến lược. 

Cán bộ cấp chiến lược bao giờ cũng nắm các vị trí trọng yếu trong hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách; phân bổ các nguồn lực và phúc lợi; bố trí, điều động, đề bạt cán bộ cấp dưới. Vì thế, nếu cán bộ cấp chiến lược không tư duy và hành động theo các giá trị công minh, chính trực, thanh liêm thì quyền lực rất dễ bị tha hóa; các chính sách ban hành không vì mục tiêu công lợi mà bị các động cơ cá nhân, cục bộ, lợi ích nhóm chi phối; nguồn lực phân bổ không công bằng, thiếu hiệu quả, gây lãng phí tài sản đất nước; bố trí, sử dụng cán bộ thiên vị, không khách quan sẽ làm cho bộ máy vận hành kém hiệu quả. Để tối ưu hóa hiệu quả trong sử dụng quyền lực công đòi hỏi phải kiểm soát quyền lực hiệu quả, phòng ngừa lạm quyền, lộng quyền, rộng hơn là chống tha hóa quyền lực. Nhưng kiểm soát quyền lực mà không dẫn tới triệt tiêu năng lực sáng tạo, đổi mới, khả năng đột phá chiến lược của cán bộ cấp chiến lược là vấn đề thuộc khoa học và nghệ thuật tổ chức quyền lực. 

Hóa giải mâu thuẫn trên đây chỉ có thể bằng cả xây dựng đạo đức cầm quyền và tạo ra khung thể chế nuôi dưỡng và bảo vệ các ý tưởng đột phá chiến lược. Đạo đức cần thiết cho mọi loại cán bộ, nhưng quyền lực càng cao càng đòi hỏi phải nghiêm khắc với các chuẩn mực đạo đức cách mạng. Bởi chính đạo đức mới làm cho các năng lực cá nhân được vận hành đúng phương hướng, vì lợi ích của Đảng, của dân tộc, của nhân dân; bảo đảm cho các quyết sách chính trị luôn vô tư, không bị các động cơ cá nhân chi phối, nhờ đó luôn đúng đắn và sáng suốt; bảo đảm cho cán bộ chiến lược thực sự làm gương cho cấp dưới, dẫn đạo nhân dân. Lệch chuẩn về đạo đức của cán bộ cấp chiến thuật chỉ gây hậu quả trong phạm vi nhỏ hẹp, còn suy thoái đạo đức của cán bộ cấp chiến lược ảnh hưởng trên phạm vi rộng lớn, liên quan đến hình ảnh của cả chế độ và tính chính đáng của sự cầm quyền. Đạo đức cầm quyền ở đây là sự xác lập những giá trị mà người cán bộ cấp chiến lược luôn giành được lòng tin của tập thể, cộng sự và nhân dân đối với mọi suy nghĩ và hành vi của mình. Đạo đức cầm quyền cũng là sợi dây vô hình ràng buộc mỗi cán bộ cấp chiến lược với các giá trị đã cam kết, trong đó có đức hy sinh, dấn thân. Bởi đổi mới, sáng tạo, đột phá luôn đối mặt với nguy cơ rủi ro, rất cần đến những con người có bản lĩnh, dám hy sinh cả sinh mệnh chính trị cho các thay đổi vì các giá trị thiêng liêng. 

Kiểm soát quyền lực cũng như tạo không gian cho sáng tạo bằng đạo đức rất trừu tượng, chỉ có thể đạt được ở những con người tu dưỡng rèn luyện suốt đời. Vì vậy, phòng ngừa nguy cơ tha hóa quyền lực và tạo không gian cho sáng tạo cơ bản phải dựa trên khung thể chế được thiết kế, xây dựng một cách khoa học. Khung thể chế đó tạo môi trường, điều kiện cho cán bộ cấp chiến lược luôn đổi mới và sáng tạo, nhất là ý thức tự giác về những cái phải làm để tạo ra đột phá cho phát triển, những cái không được phép làm do chế định từ bổn phận, trách nhiệm cầm quyền phải làm gương cho nhân dân. Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của cá nhân trước tổ chức, trước dân tộc và nhân dân là rất quan trọng, giúp cho cán bộ cấp chiến lược luôn suy nghĩ và hành động bởi thôi thúc của nội tâm, đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc, của nhân dân lên trên hết, sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp cách mạng. Đồng thời, khung thể chế đó cũng luôn đặt mọi hoạt động của cán bộ cấp chiến lược trên những nguyên tắc được xác lập nhất quán và cơ chế được thiết kế khoa học, bảo đảm cho cán bộ luôn suy nghĩ và hành động đúng đắn, sáng suốt, phòng ngừa mọi sai lầm có thể. Kiểm soát quyền lực phải được bảo đảm bằng ràng buộc hành vi cá nhân với nguyên tắc tổ chức, nhất là các giá trị đạo đức cầm quyền đã cam kết, tự nguyện dấn thân; bằng cơ chế, thể chế tạo khung khổ cho tư duy và hành động đúng đắn; bằng bảo đảm vai trò lãnh đạo của tập thể, của tổ chức đối với cá nhân; bằng kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước và pháp luật; bằng giám sát trong Đảng, giám sát và phản biện xã hội, giám sát và phê bình của nhân dân, giám sát của báo chí và dư luận... /.

PGS.TS. Đoàn Minh Huấn
Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng
Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản

* Bài đã đăng trên Tạp chí Cộng sản ngày 4/5/2018

Báo điện tử Chính phủ - Cổng Thông tin điện tử Chính phủ  (Cập nhật ngày 04-05-2018)    



Các tin liên quan:
  Cách tất cả các chức vụ đảng đối với đồng chí Phan Thị Mỹ Thanh (04-05-2018)
  Công bố quyết định của Bộ Chính trị về công tác cán bộ (04-05-2018)
  Thủ tướng: Phải tăng cường đối thoại với thanh niên (13-04-2018)
  Kỷ luật Phó Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lăk; lãnh đạo huyện Krông Pắk (13-04-2018)
  Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP tiếp công dân (13-04-2018)
       Lịch phát sóng hôm nay

Thứ sáu  - 21/09/2018

 

06h00: Thời sự BTV

06h30: Ca nhạc

07h00: Phim truyện: Trái tim bị đánh cắp (T.40)

07h45: Phim truyện VN: Ghen- Người tình qua tin nhắn (T.4- Phần 3)

08h30: Phổ biến kiến thức pháp luật

08h45: Khám phá thế giới

09h15: Phim tài liệu

10h00: Tạp chí Sức khỏe cho mọi người: Bệnh tim mạch và sức khỏe

10h20: Truyền hình tiếng Chăm H’roi: Trở lại làng Cam

11h00: Phim truyện VN: Hãy nói về tình yêu (T.1)

11h45: Thời sự BTV

12h00: Bản tin thị trường

12h10: Phim truyện: Người vợ 100 ngày (T.9)

13h00: Phim hoạt hình

13h30: Khám phá thế giới

14h00: Phim truyện: Vua khách sạn  (T.43+44)

15h30: Ca nhac

15h50: Phổ biến kiến thức pháp luật

16h00: Phim truyện VN: Đặc vụ ở Macau (T.11)

16h45: Phóng sự: Kết quả từ phong trào xây dựng đời sống văn hóa trong cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp ở tỉnh Bình Định(20)

17h05: Khám phá thế giới

18h00: Phim truyện: Chuyện tình nàng Tiểu Thiện (T.29)

19h00: Tiếp sóng Bản tin Thời sự của Đài THVN

19h50: Thời sự BTV

20h15:  Nông dân Bình Định: Ghi nhận từ Đại hội nông dân tỉnh Bình Định lần thứ XVI

20h35: Phim truyện: Tình yêu và thù hận (T.16)

21h20: Bản tin thị trường

21h30:  Phim truyện VN: Ghen- Tin bạn mất chồng (T.2- Phần 4)

22h15:  Thời sự BTV

22h40: Vần thơ quê hương: Khúc hát về dòng sông

       Tìm kiếm tin tức
Từ khóa:
Mục tin:
       Thông báo

THÔNG BÁO TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC NĂM 2018

Căn cứ Kế hoạch tuyển dụng viên chức của Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Định năm 2018, Đài PT&TH Bình Định thông báo như sau:

- Số lượng biên chế cần tuyển dụng là 31 biên chế, gồm:

+ Đạo diễn truyền hình hạng III: 02 biên chế.

+ Phóng viên hạng III: 08 biên chế.

+ Biên tập viên hạng III: 04 biên chế.

+ Kỹ sư hạng III: 04 biên chế.

+ Quay phim viên hạng III: 02 biên chế.

+ Quay phim viên hạng IV: 02 biên chế.

+ Phát thanh viên hạng III: 03 biên chế.

+ Phát thanh viên hạng IV: 03 biên chế.

+ Thiết kế đồ họa: 01 biên chế.

+ Chuyên viên: 02 biên chế.

- Tiêu chuẩn, điều kiện đăng ký, hình thức và nội dung thi tuyển: Thông tin chi tiết tại Kế hoạch tuyển dụng viên chức của Đài PT&TH Bình Định năm 2018 được ban hành kèm theo Quyết định số 113/QĐ-ĐPT.TH ngày 11/9/2018 của Đài PT&TH Bình Định.

- Nội dung hồ sơ đăng ký dự tuyển: Theo mẫu hồ sơ đăng ký dự tuyển do Sở Nội vụ phát hành. Hồ sơ đăng ký dự tuyển không hoàn trả lại.

- Thời gian nhận hồ sơ: Từ ngày 18/9/2018 đến ngày 15/10/2018 (trong giờ hành chính, trừ các ngày Chủ Nhật).

- Địa điểm nhận hồ sơ: Phòng Tổ chức - Hành chính, Đài PT&TH Bình Định, địa chỉ: số 23, đường Mai Xuân Thưởng, Tp. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Điện thoại: 0935496653 - 0256.3822735 - 0256.3826881.

- Thời gian, địa điểm tổ chức ôn tập và thi tuyển: Sẽ thông báo sau.

- Lệ phí thi tuyển thực hiện theo quy định tại Thông tư số 228/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ Tài chính. Người đăng ký dự tuyển nộp lệ phí thi tuyển khi nhận Thẻ dự thi.

- Chi tiết thông tin tuyển dụng được niêm yết tại Đài PT&TH Bình Định.


KẾ HOẠCH

Tổ chức tuyển dụng viên chức của Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Định năm 2018

(Ban hành kèm theo Quyết định số 113/QĐ-ĐPT.TH ngày 11/9/2018 của Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Định)

I. CĂN CỨ PHÁP LÝ

Căn cứ Luật Viên chức số 58/QH12 ngày 15/11/2010 của Quốc hội;

Căn cứ Nghị định số 29/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức; Thông tư số 15/TT-BNV ngày 25/12/2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về tuyển dụng, ký kết hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức; Thông tư số 16/TT-BNV ngày 28/12/2012 của Bộ Nội vụ ban hành quy chế thi tuyển, xét tuyển viêc chức; quy chế thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức và nội quy kỳ thi tuyển, thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức;

Căn cứ Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTTTT-BNV ngày 07/4/2016 của Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của các chức danh viên chức biên tập viên, phóng viên, biên dịch viên và đạo diễn truyền hình thuộc chuyên ngành Thông tin và Truyền thông; Thông tư liên tịch số 24/2014/TTLT-BKHCN-BNV ngày 01/10/2014 của Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Nội vụ quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành khoa học và công nghệ; Thông tư số 46/2017/TT-BTTTT ngày 29/12/2017 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức âm thanh viên, phát thanh viên, kỹ thuật dựng phim, quay phim thuộc chuyên ngành thông tin và truyền thông; Thông tư liên tịch số 07/2016/TTLT-BVHTTDL-BNV ngày 30/6/2016 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Nội vụ quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành mỹ thuật; Thông tư số 11/2014/TT-BNV ngày 09/10/2014 của Bộ Nội vụ quy định chức danh, mã số ngạch và tiêu chuẩn nghiệp vụ chuyên môn các ngạch công chức chuyên ngành hành chính;

Căn cứ Quyết định số 06/QĐ-UBND ngày 17/3/2009 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy định về phân cấp quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ, công chức, viên chức cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp tỉnh Bình Định; Quyết định số 2700/QĐ-UBND ngày 14/8/2014 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy định về tuyển dụng viên chức các đơn vị sự nghiệp công lập tỉnh Bình Ðịnh; Quyết định số 4960/QĐ-UBND ngày 30/12/2016 của UBND tỉnh về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về tuyển dụng viên chức ban hành kèm theo Quyết định số 2700/QĐ-UBND ngày 14/8/2014 của UBND tỉnh;

Căn cứ Quyết định số 738/QĐ-UBND ngày 26/12/2008 của UBND tỉnh Bình Định ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Đài PT&TH Bình Định; Quyết định số 1173/QĐ-UBND ngày 12/4/2016 của UBND tỉnh Bình Định về việc phê duyệt Đề án tinh giản biên chế của Đài PT&TH Bình Định đến năm 2021;

Trên cơ sở Đề án vị trí việc làm của Đài PT&TH Bình Định;

Đài PT&TH Bình Định xây dựng Kế hoạch tuyển dụng viên chức sự nghiệp vào làm việc tại Đài PT&TH Bình Định. Nội dung cụ thể như sau:

I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU, NGUYÊN TẮC TUYỂN DỤNG:

1. Mục đích, yêu cầu:

1. Tổ chức kỳ tuyển dụng viên chức nghiêm túc, đúng quy chế tuyển dụng viên chức do Bộ Nội vụ quy định.

2. Tổ chức tuyển dụng viên chức nhằm đảm bảo đủ số lượng, nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức; tuyển dụng đúng đối tượng và nhu cầu vị trí việc làm trên cơ sở số lượng vị trí việc làm cần thiết của Đài đã xây dựng.

3. Tuyển dụng được đội ngũ viên chức có năng lực, trình độ chuyên môn, đúng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp do Nhà nước quy định, có phẩm chất đạo đức tốt, tận tụy phục vụ nhân dân, hoàn thành tốt nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao và nhiệm vụ Đài phân công.

2. Nguyên tắc tuyển dụng

1. Việc tuyển dụng viên chức phải đảm bảo công khai, công bằng, khách quan, cạnh tranh và thực hiện chính sách ưu tiên theo đúng quy định pháp luật.

2. Việc tuyển dụng viên chức căn cứ vào số lượng vị trí việc làm của Đài PT&TH Bình Định đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

3. Mọi công dân có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định đều được tham gia tuyển dụng vào ngạch viên chức;ưu tiên người có tài, người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số.

4. Những người được tuyển dụng phải đúng tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ và được bố trí đúng vị trí việc làm.

5.Tổ chức tuyển dụng phải thông qua Hội đồng tuyển dụng được Đài PT&TH Bình Định quyết định thành lập.

6. Đề cao tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập.

II. NHU CẦU TUYỂN DỤNG

1. Chỉ tiêu biên chế được giao: 131 biên chế.

2. Biên chế đã thực hiện: 92 biên chế.

3. Biên chế chưa thực hiện: 39 biên chế.

4. Số lượng vị trí việc làm cần tuyển dụng: 31 biên chế (còn 06 biên chế để đảm bảo thực hiện Đề án tinh giản biên chế của Đài đến năm 2021; 02 biên chế hoán đổi thành biên chế lao động thực hiện công việc theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP), cụ thể:

- Đạo diễn truyền hình hạng III (mã số: V.11.04.12): 02 biên chế.

- Phóng viên hạng III (mã số: V.11.02.06): 08 biên chế.

- Biên tập viên hạng III (mã số: V.11.01.03): 04 biên chế.

- Kỹ sư hạng III (mã số: V.05.02.07): 04 biên chế.

- Quay phim viên hạng III (mã số: V.11.12.37): 02 biên chế.

- Quay phim viên hạng IV (mã số: V.11.12.38): 02 biên chế.

- Phát thanh viên hạng III (mã số: V.11.10.29): 03 biên chế.

- Phát thanh viên hạng IV (mã số: V.11.10.30): 03 biên chế.

- Họa sĩ hạng III (Thiết kế đồ họa - mã số: V.10.08.27) : 01 biên chế.

- Chuyên viên (mã số: 01.003): 02 biên chế.

 (Có bảng nhu cầu tuyển dụng chi tiết kèm theo)

III. ĐIỀU KIỆN VÀ TIÊU CHUẨN ĐĂNG KÝ DỰ TUYỂN:

1. Điều kiện dự tuyển:

a. Người dự tuyển vào làm việc tại Đài PT&TH Bình Định phải có phẩm chất đạo đức tốt, đáp ứng tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ của ngạch viên chức tuyển dụng và có đủ có điều kiện sau đây:

- Là công dân Việt Nam và có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bình Định từ đủ 3 năm (đủ 36 tháng) trở lên tính đến ngày nộp hồ sơ dự tuyển hoặc có nguyên quán tại tỉnh Bình Định. Các trường hợp sau đây không yêu cầu hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bình Định nhưng phải có đơn cam kết công tác tại tỉnh Bình Định ít nhất là 5 năm (đủ 60 tháng):

+ Người có bằng tốt nghiệp tiến sĩ, thạc sĩ;

+ Người có bằng tốt nghiệp đại học hệ chính quy tập trung tại các trường công lập ở trong nước và cơ sở giáo dục ở nước ngoài, đạt loại xuất sắc, giỏi;

+ Người có cha, mẹ, vợ (hoặc chồng) có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bình Định từ đủ 3 năm (36 tháng) trở lên tính đến ngày nộp hồ sơ dự tuyển.

- Tuổi đời từ 18 trở lên;

- Có đơn đăng ký dự tuyển;

- Có lý lịch rõ ràng;

- Có đầy đủ văn bằng, chứng chỉ đào tạo phù hợp với vị trí việc làm cần tuyển dụng;

- Có đủ sức khỏe để thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ;

- Đáp ứng những điều kiện khác theo yêu cầu của từng vị trí việc làm.

b. Những trường hợp sau đây không được đăng ký dự tuyển viên chức:

- Mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

- Đang trong thời gian bị kỷ luật; đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành hoặc đã chấp hành xong bản án, quyết định về hình sự của tòa án mà chưa được xóa án tích; đang bị áp dụng các biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng.

2. Tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng của các chức danh:

(Có bảng tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng chi tiết kèm theo)

IV. HỒ SƠ DỰ TUYỂN:

1. Hồ sơ dự tuyển viên chức bao gồm:

- Đơn đăng ký dự tuyển viên chức;

- Bản sơ yếu lý lịch tự thuật có xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc của cơ quan, đơn vị nơi đang làm việc trong thời hạn 6 tháng, tính đến ngày nộp hồ sơ dự tuyển;

- Bản sao hộ khẩu thường trú;

- Bản sao các văn bằng, chứng chỉ và kết quả học tập theo yêu cầu của vị trí dự tuyển, được cơ quan có thẩm quyền chứng thực. Trường hợp văn bằng do cơ sở đào tạo nước ngoài cấp phải được công chứng dịch thuật sang tiếng Việt;

-Giấy chứng nhận sức khỏe còn giá trị sử dụng do cơ quan y tế đủ điều kiện được khám sức khỏe chứng nhận theo quy định tại Thông tư số 14/TT-BYT ngày 06/5/2013của Bộ Y tế về việc hướng dẫn khám sức khỏe;

- Giấy chứng nhận thuộc đối tượng ưu tiên trong tuyển dụng viên chức (nếu có) được cơquan, tổ chức có thẩm quyền chứng thực;

- 02 phong bì có dán tem, ghi rõ họ tên và địa chỉ người nhận;

- 02 ảnh 4x6, mặt sau ghi rõ các thông tin của người dự tuyển: họ tên, ngày tháng năm sinh, vị trí đăng ký tuyển dụng.

2. Một số yêu cầu đối riêng với vị trí Phát thanh viên:

- Người đăng ký dự tuyển phải có giọng đọc tốt, có ngoại hình phù hợp với vị trí tuyển dụng (có khả năng lên hình); tuổi đời không quá 30; nam cao từ 1m65 trở lên; nữ cao từ 1m55 trở lên.

- Thí sinh phải qua sơ tuyển trước khi thi tuyển chính thức.

- Chậm nhất 20 ngày làm việc trước ngày tổ chức thi tuyển, sẽ tiến hành sơ tuyển. Trước ngày sơ tuyển 01 ngày, Hội đồng tuyển dụng niêm yết danh sách thí sinh theo số báo danh, nội quy sơ tuyển tại địa điểm tổ chức sơ tuyển.

- Nội dung sơ tuyển: Khả năng lên hình, giọng đọc và cách thể hiện.

- Cách tính điểm:Bài thi thể hiện được ghi hình, được chấm theo thang điểm 100 (một trăm). Người vượt qua vòng sơ tuyển phát thanh viên phải đạt từ 50 điểm trở lên.

3. Hồ sơ đăng ký dự tuyển viên chức: Thực hiện theo mẫu thống nhất do Sở Nội vụ phát hành. Người dự tuyển phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp của những giấy tờ trong hồ sơ dự tuyển. Các trường hợp khai man, giả mạo hồ sơ sẽ bị hủy kết quả tuyển dụng và xử lý theo quy định của pháp luật.

4. Người dự tuyển chỉ được đăng ký dự tuyển đối với một chức danh nghề nghiệp có nhu cầu tuyển dụng, nếu người dự tuyển nào đăng ký từ hai chức danh nghề nghiệp dự tuyển trở lên hoặc trong hồ sơ khai không trung thực thì bị xóa tên trong danh sách dự tuyển hoặc bị hủy bỏ kết quả tuyển dụng. Hồ sơ đăng ký dự tuyển không hoàn trả lại.

V. NỘI DUNG, HÌNH THỨC TUYỂN DỤNG VÀ CÁCH TÍNH ĐIỂM, CÁCH XÁC ĐỊNH NGƯỜI TRÚNG TUYỂN:

1. Hình thức tuyển dụng: Thi tuyển.

2. Nội dung thi tuyển:

2.1. Môn thi:

- Thi ngoại ngữ.

- Thi tin học.

- Thi kiến thức chung.

- Thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành.

2.2. Hình thức thi:

a. Thi ngoại ngữ:

- Hình thức thi: Thi viết (tiếng Anh).

- Thời gian làm bài: 60 phút.

- Nội dung thi:

+ Đối với các chức danh viên chức hạng III và tương đương: Theo trình độ ngoại ngữ bậc 2 (A2) quy định tại Thông tư số 01/2014/TT-BGDĐT hoặc tương đương.

+ Đối với các chức danh viên chức hạng IV: Theo trình độ ngoại ngữ bậc 1 (A1) quy định tại Thông tư số 01/2014/TT-BGDĐT hoặc tương đương.

b. Thi tin học văn phòng:

- Hình thức thi: Thi trắc nghiệm.

- Thời gian gian thi: 30 phút.

- Nội dung thi: Kiểm tra hiểu biết của người dự tuyển về sử dụng Internet và kiến thức tin học theo trình độ đạt chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản quy định tại Thông tư số 03/2014/TT-BTTTT hoặc tương đương.

c. Thi kiến thức chung:

- Hình thức thi: Thi viết 01 bài.

- Thời gian làm bài 120 phút.

- Nội dung thi: Về pháp luật viên chức, báo chí; chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và những hiểu biết cơ bản về ngành, lĩnh vực tuyển dụng.

d. Thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành:

- Hình thức thi: Thi trắc nghiệm và thi thực hành.

- Nội dung thi trắc nghiệm: Kiến thức liên quan đến chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành dự tuyển.

- Nội dung thi thực hành:

+ Đạo diễn truyền hình hạng III: Thực hành đạo diễn một chương trình trong phim trường.

+ Phóng viên hạng III: Thực hành viết tin, phóng sự.

+ Biên tập viên hạng III (Biên tập viên truyền hình): Thực hành biên tập nội dung tin, phóng sự.

+ Biên tập viên hạng III (Biên tập viên văn nghệ): Thực hành xây dựng kịch bản, biên tập nội dung chương trình phát thanh, truyền hình.

+ Kỹ sư hạng III (phát thanh): Thực hành thu tiếng và dựng chương trình phát thanh.

+ Kỹ sư hạng III (truyền hình): Thực hành lồng tiếng, dựng phim chương trình truyền hình.

+ Quay phim viên hạng III: Thực hành nghiệp vụ quay phim.

+ Quay phim viên hạng IV: Thực hành nghiệp vụ quay phim.

+ Phát thanh viên hạng III: Lên hình, đọc, dẫn bản tin, chuyên mục.

+ Phát thanh viên hạng IV: Lên hình, đọc, dẫn bản tin, chuyên mục.

+ Thiết kế đồ họa (Họa sĩ hạng III): Thực hành thiết kế hình hiệu, hình cắt, dựng clip quảng bá chương trình.

+ Chuyên viên chăm sóc khách: Thực hành nghiệp vụ quản lý quan hệ khách hàng và quan hệ công chúng.

+ Chuyên viên kế hoạch: Thực hành nghiệp vụ kế hoạch, tài chính.

- Thời gian thi:

+ Thời gian làm bài thi trắc nghiệm: 30 phút.

+ Thời gian làm bài thi thực hành: Thời gian thi thực hành do Giám đốc Đài PT&TH Bình Định quyết định phù hợp với tính chất, đặc điểm của lĩnh vực nghề nghiệp chuyên ngành và yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng.

3. Điều kiện miễn thi môn ngoại ngữ và tin học

a. Miễn thi môn ngoại ngữ nếu có một trong các điều kiện sau:

- Có bằng tốt nghiệp đại học, sau đại học chuyên ngành ngoại ngữ;

- Có bằng tốt nghiệp đại học, sau đại học ở nước ngoài hoặc tốt nghiệp đại học, sau đại học tại cơ sở đào tạo bằng tiếng nước ngoài ở Việt Nam;

b. Miễn thi môn tin học văn phòng trong trường hợp có bằng tốt nghiệp từ trung cấp chuyên ngành công nghệ thông tin trở lên.

4. Cách tính điểm:

a.Bài thi được chấm theo thang điểm 100 (một trăm).

b.Điểm các bài thi được tính như sau:

- Thi kiến thức chung: Tính hệ số 1 (một);

- Thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành: Phần thi trắc nghiệm tính hệ số 1 (một); phần thi thực hành tính hệ số 2 (hai);

c.Điểm bài thi môn ngoại ngữ, môn tin học văn phòng là điểm điều kiện và không tính vào tổng số điểm thi.

d.Kết quả thi tuyển là tổng số điểm của bài thi kiến thức chung và các bài thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành.

5. Xác định người trúng tuyển trong kỳ thi tuyển viên chức:

a. Người trúng tuyển trong kỳ thi tuyển viên chức phải tham dự đủ các bài thi theo quy định, mỗi bài thi đạt từ 50 điểm trở lên và được xác định theo nguyên tắc: Người trúng tuyển có kết quả thi cao hơn, lấy theo thứ tự từ cao xuống thấp cho đến hết chỉ tiêu tuyển dụng của từng vị trí việc làm.

b. Trường hợp có từ 02 người trở lên có kết quả thi bằng nhau ở chỉ tiêu cuối cùng cần tuyển dụng thì người có tổng số điểm các bài thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành cao hơn là người trúng tuyển; nếu tổng số điểm các bài thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành bằng nhau thì Giám đốc Đài quyết định người trúng tuyển theo thứ tự ưu tiên như sau:

- Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động;

- Thương binh;

- Người hưởng chính sách như thương binh;

- Con liệt sĩ;

- Con thương binh;

- Con của người hưởng chính sách như thương binh;

- Người dân tộc ít người;

- Đội viên thanh niên xung phong;

- Đội viên tri thức trẻ tình nguyện tham gia phát triển nông thôn, miền núi từ đủ 24 tháng trở lên đã hoàn thành nhiệm vụ;

- Người hoàn thành nghĩa vụ quân sự;

- Người dự tuyển là nữ.

c. Trường hợp vẫn không xác định được người trúng tuyển theo thứ tự ưu tiên thì Giám đốc Đài PT&TH Bình Định thống nhất với Sở Nội vụ trước khi quyết định người trúng tuyển.

d. Không thực hiện việc bảo lưu kết quả thi tuyển cho các kỳ thi tuyển lần sau.

VI. TRÌNH TỰ THỦ TỤC TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC:

1. Thông báo tuyển dụng và tiếp nhận hồ sơ dự tuyển:

- Thông báo tuyển dụng và tiếp nhận hồ sơ dự tuyển thực hiện theo quy định tại Điều 16 Quy định về tuyển dụng viên chức ban hành kèm theo Quyết định số 2700/QĐ-UBND ngày 14/8/2014 của UBND tỉnh.

- Hồ sơ nộp trực tiếp cho Tổ tiếp nhận hồ sơ và ký vào danh sách nộp hồ sơ dự tuyển.

- Địa điểm nhận hồ sơ: Phòng Tổ chức - Hành chính, Đài PT&TH Bình Định, (số 23 Mai Xuân Thưởng, Tp. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Điện thoại: 0935496653 - 0256.3822735 - 0256.3826881).

Lưu ý: Thời gian nhận hồ sơ của người đăng ký dự tuyển ít nhất là 20 ngày làm việc kể từ ngày thông báo tuyển dụng công khai trên phương tiện thông tin đại chúng.

2. Thành lập Hội đồng tuyển dụng viên chức:

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hết hạn nhận hồ sơ của người đăng ký dự tuyển, Giám đốc Đài PT&TH Bình Định quyết định thành lập Hội đồng tuyển dụng viên chức để thực hiện việc thi tuyển viên chức.

3. Thông báo danh sách người đủ điều kiện dự tuyển:

Chậm nhất 15 ngày làm việc trước ngày tổ chức thi tuyển, Đài PT&TH Bình Định lập danh sách người đủ điều kiện dự tuyển để niêm yết công khai tại trụ sở làm việc; thông báo trên trang điện tử của Đài và gửi thông báo triệu tập thí sinh dự thi tuyển, thông báo cụ thể thời gian, địa điểm ôn tập, thi tuyển cho các thí sinh đủ điều kiện dự thi tuyển.

- Trước ngày thi tuyển 01 ngày, Hội đồng tuyển dụng niêm yết danh sách thí sinh theo số báo danh và theo phòng thi, sơ đồ vị trí các phòng, nội quy thi tuyển tại địa điểm tổ chức thi tuyển.

4. Thông báo kết quả điểm thi tuyển:

- Chậm nhất trong thời hạn 20 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc tổ chức thi tuyển, Hội đồng tuyển dụng viên chức phải tổng hợp báo cáo kết quả thi tuyển với Giám đốc Đài PT&TH Bình Định.

- Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả thi tuyển của Hội đồng xét tuyển, Đài PT&TH Bình Định phải thông báo công khai kết quả thi tuyển trên trang thông tin điện tử của Đài và niêm yết tại trụ sở làm việc của Đài.

5. Giải quyết khiếu nại và phúc khảo:

- Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày niêm yết công khai kết quả thi tuyển, người dự tuyển có quyền gửi đơn đề nghị phúc khảo kết quả thi tuyển (không thực hiện việc phúc khảo đối với nội dung trắc nghiệm và thực hành). Giám đốc Đài PT&TH Bình Định giao Hội đồng tuyển dụng tổ chức phúc khảo trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày hết hạn nhận đơn phúc khảo.

6. Thông báo kết quả thi tuyển:

- Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phúc khảo, Đài PT&TH Bình Định phải gửi kết quả thi tuyển viên chức về UBND tỉnh để xem xét công nhận theo quy định (thông qua Sở Nội vụ).

- Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có ý kiến của UBND tỉnh và thỏa thuận của Sở Nội vụ, Giám đốc Đài PT&TH Bình Định quyết định phê duyệt kết quả tuyển dụng viên chức.

- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có quyết định phê duyệt kết quả tuyển dụng, Đài PT&TH Bình Định phải gửi thông báo công nhận kết quả trúng tuyển bằng văn bản tới người dự tuyển qua đường bưu điện theo địa chỉ mà người dự tuyển đã đăng ký và thông báo công khai tại trụ sở làm việc và trang thông tin điện tử của Đài PT&TH Bình Định.

  VII. KINH PHÍ TỔ CHỨC KỲ TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC

- Kinh phí tổ chức thi tuyển sử dụng từ nguồn thu dịch vụ của Đài PT&TH Bình Định và lệ phí đăng ký thi tuyển.

- Mức thu phí thực hiện theo quy định tại Thông tư số 228/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí tuyển dụng, dự thi nâng ngạch, thăng hạng công chức, viên chức.

- Người đăng ký dự tuyển nộp lệ phí thi tuyển khi nhận Thẻ dự thi.

VIII. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Hội đồng tuyển dụng viên chức

a. Thành lập Hội đồng tuyển dụng viên chức:

 Hội đồng tuyển dụng viên chức do Giám đốc Đài PT&TH Bình Định quyết định thành lập, thành phần gồm:

- Chủ tịch Hội đồng là Giám đốc hoặc Phó Giám đốc Đài;

- Phó Chủ tịch Hội đồng là Phó Giám đốc Đài;

- Các ủy viên là đại diện lãnh đạo các phòng chuyên môn trực thuộc Đài và 01 ủy viên kiêm thư ký Hội đồng là Trưởng phòng Phòng Tổ chức - Hành chính.

b. Nhiệm vụ, quyền hạn Hội đồng tuyển dụng viên chức:

- Thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của Đài PT&TH Bình Định, niêm yết tại trụ sở làm việc về tiêu chuẩn, điều kiện, số lượng cần tuyển dụng; thời gian và địa điểm ôn tập; thời gian và địa điểm thi tuyển; lệ phí thi tuyển; thông báo và kế hoạch tuyển dụng gửi về Sở Nội vụ một bản trước ngày bắt đầu tiếp nhận hồ sơ dự tuyển 05 ngày để phối hợp, giám sát và kiểm tra;

- Tiếp nhận hồ sơ dự tuyển; lập danh sách thí sinh đăng ký dự tuyển; danh sách tổng hợp thí sinh đủ điều kiện, tiêu chuẩn và kết quả thi tuyển; danh sách thí sinh trúng tuyển;

- Tổ chức tuyển dụng viên chức đảm bảo đúng quy định tại Kế hoạch này.

- Giải quyết khuyến nại, tố cáo của người dự tuyển (nếu có).

2. Đối với Phòng Tổ chức - Hành chính:

- Tham mưu Giám đốc Đài thành lập Hội đồng tuyển dụng viên chức Đài PT&TH Bình Định năm 2018.

- Là bộ phận thường trực của Hội đồng tuyển dụng viên chức, có trách nhiệm tham mưu cho Hội đồng tuyển dụng viên chức tổ chức, thực hiện Kế hoạch tuyển dụng viên chức Đài PT&TH Bình Định năm 2018.

- Tiếp nhận hồ sơ của người đăng ký dự tuyển, thu phí dự tuyển đối với thí sinh đủ điều kiện dự tuyển theo quy định.

3. Lãnh đạo các phòng chuyên môn thuộc Đài

- Cử người có trách nhiệm tham gia Hội đồng thi tuyển và các bộ phận giúp việc có liên quan.

- Thực hiện tiếp nhận và phân công người hướng dẫn tập sự đối với người trúng tuyển viên chức theo đúng quy định.

4. Đối với phòng Kế hoạch - Tài chính:

Chủ trì phối hợp với phòng Tổ chức - Hành chính tham mưu lãnh đạo Đài dự trù kinh phí tổ chức thi tuyển theo Kế hoạch này.

Trong quá trình thực hiện nếu có khó khăn vướng mắc, đề nghị phản ánh kịp thời về Hội đồng tuyển dụng viên chức Đài PT&TH Bình Định để tổng hợp xem xét giải quyết.


NHU CẦU TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC CỦA ĐÀI PT&TH BÌNH ĐỊNH NĂM 2018

(Ban hành kèm theo Quyết định số 113/QĐ-ĐPT.TH ngày 11/9/2018 của Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Định)

1. Đạo diễn truyền hình hạng III

- Mã số: V.11.04.12.

- Số lượng cần tuyển: 02.

- Yêu cầu tiêu chuẩn tuyển dụng:

+ Chuyên môn nghiệp vụ: Đại học chuyên ngành Đạo diễn.

+ Ngoại ngữ: Bậc 2 (A2) hoặc tương đương.

+ Tin học: Cơ bản hoặc tương đương.

- Vị trí công tác cần tuyển dụng: Đạo diễn truyền hình.

2. Phóng viên hạng III

- Mã số: V.11.02.06.

- Số lượng cần tuyển: 08.

- Yêu cầu tiêu chuẩn tuyển dụng:

+ Chuyên môn nghiệp vụ: Đại học chuyên ngành Báo chí. Trường hợp đại học khác chuyên ngành Báo chí thì phải có chứng chỉ bồi dưỡng về nghiệp vụ báo chí (từ 08 tuần trở lên).

+ Ngoại ngữ: Bậc 2 (A2) hoặc tương đương.

+ Tin học: Cơ bản hoặc tương đương.

- Vị trí công tác cần tuyển dụng: Phóng viên.

3.1. Biên tập viên hạng III

- Mã số: V.11.01.03.

- Số lượng cần tuyển: 02.

- Yêu cầu tiêu chuẩn tuyển dụng:

+ Chuyên môn nghiệp vụ: Đại học chuyên ngành Báo chí. Trường hợp đại học khác chuyên ngành Báo chí thì phải có chứng chỉ bồi dưỡng về nghiệp vụ báo chí (từ 08 tuần trở lên).

+ Ngoại ngữ: Bậc 2 (A2) hoặc tương đương.

+ Tin học: Cơ bản hoặc tương đương.

- Vị trí công tác cần tuyển dụng: Biên tập viên truyền hình.

3.2. Biên tập viên hạng III

- Mã số: V.11.01.03.

- Số lượng cần tuyển: 02.

- Yêu cầu tiêu chuẩn tuyển dụng:

+ Chuyên môn nghiệp vụ: Đại học chuyên ngành Báo chí hoặc Đại học ngành Mỹ thuật Công nghiệp, có chứng chỉ bồi dưỡng về nghiệp vụ báo chí (từ 08 tuần trở lên).

+ Ngoại ngữ: Bậc 2 (A2) hoặc tương đương.

+ Tin học: Cơ bản hoặc tương đương.

- Vị trí công tác cần tuyển dụng: Biên tập viên văn nghệ.

4. Họa sĩ hạng III (thiết kế đồ họa)

- Mã số: V.10.08.27.

- Số lượng cần tuyển: 01.

- Yêu cầu tiêu chuẩn tuyển dụng:

+ Chuyên môn nghiệp vụ: Đại học chuyên ngành Thiết kế đồ họa quảng cáo.

+ Ngoại ngữ: Bậc 2 (A2) hoặc tương đương.

+ Tin học: Cơ bản hoặc tương đương.

- Vị trí công tác cần tuyển dụng: Thiết kế đồ họa các chương trình truyền hình về văn hóa, nghệ thuật.

5.1. Kỹ sư hạng III

- Mã số: V.05.02.07.

- Số lượng cần tuyển: 02.

- Yêu cầu tiêu chuẩn tuyển dụng:

+ Chuyên môn nghiệp vụ: Đại học chuyên ngành Điện tử Viễn thông.

+ Ngoại ngữ: Bậc 2 (A2) hoặc tương đương.

+ Tin học: Cơ bản hoặc tương đương.

- Vị trí công tác cần tuyển dụng: Kỹ thuật truyền dẫn, phát sóng, sản xuất chương trình phát thanh.

5.2. Kỹ sư hạng III

- Mã số: V.05.02.07.

- Số lượng cần tuyển: 02.

- Yêu cầu tiêu chuẩn tuyển dụng:

+ Chuyên môn nghiệp vụ: Đại học chuyên ngành Điện tử Viễn thông.

+ Ngoại ngữ: Bậc 2 (A2) hoặc tương đương.

+ Tin học: Cơ bản hoặc tương đương.

- Vị trí công tác cần tuyển dụng: Kỹ thuật truyền dẫn, phát sóng, sản xuất chương trình truyền hình.

6. Quay phim hạng IV

- Mã số: V.11.12.38.

- Số lượng cần tuyển: 02.

- Yêu cầu tiêu chuẩn tuyển dụng:

+ Chuyên môn nghiệp vụ: Trung cấp Quay phim (hoặc các ngành gần đào tạo về công nghệ thông tin trở lên).

+ Ngoại ngữ: Bậc 1 (A1) hoặc tương đương.

+ Tin học: Cơ bản hoặc tương đương.

- Vị trí công tác cần tuyển dụng: Quay phim truyền hình.

7. Quay phim hạng III

- Mã số: V.11.12.37.

- Số lượng cần tuyển: 02.

- Yêu cầu tiêu chuẩn tuyển dụng:

+ Chuyên môn nghiệp vụ: Đại học chuyên ngành Quay phim.

+ Ngoại ngữ: Bậc 2 (A2) hoặc tương đương.

+ Tin học: Cơ bản hoặc tương đương.

- Vị trí công tác cần tuyển dụng: Quay phim truyền hình.

8. Phát thanh viên hạng IV

- Mã số: V.11.10.30.

- Số lượng cần tuyển: 03.

- Yêu cầu tiêu chuẩn tuyển dụng:

+ Chuyên môn nghiệp vụ: Trung cấp các ngành trở lên.

+ Ngoại ngữ: Bậc 1 (A1) hoặc tương đương.

+ Tin học: Cơ bản hoặc tương đương.

+ Tiêu chuẩn khác: Thí sinh dự tuyển phải có giọng đọc tốt, có ngoại hình phù hợp với vị trí tuyển dụng (có khả năng lên hình); tuổi đời không quá 30; nam cao 1m65 trở lên; nữ cao 1m55 trở lên. Sơ tuyển trước khi thi tuyển.

- Vị trí công tác cần tuyển dụng: Phát thanh viên phát thanh, truyền hình.

9. Phát thanh viên hạng III

- Mã số: V.11.10.29.

- Số lượng cần tuyển: 03.

- Yêu cầu tiêu chuẩn tuyển dụng:

+ Chuyên môn nghiệp vụ: Đại học các ngành trở lên.

+ Ngoại ngữ: Bậc 2 (A2) hoặc tương đương.

+ Tin học: Cơ bản hoặc tương đương.

+ Tiêu chuẩn khác: Thí sinh dự tuyển phải có giọng đọc tốt, có ngoại hình phù hợp với vị trí tuyển dụng (có khả năng lên hình); tuổi đời không quá 30; nam cao 1m65 trở lên; nữ cao 1m55 trở lên. Sơ tuyển trước khi thi tuyển.

- Vị trí công tác cần tuyển dụng: Phát thanh viên phát thanh, truyền hình.

10.1. Chuyên viên

- Mã số: 01.003.

- Số lượng cần tuyển: 01.

- Yêu cầu tiêu chuẩn tuyển dụng:

+ Chuyên môn nghiệp vụ: Đại học ngành Kinh doanh thương nghiệp & Dịch vụ.

+ Ngoại ngữ: Bậc 2 (A2) hoặc tương đương.

+ Tin học: Cơ bản hoặc tương đương.

- Vị trí công tác cần tuyển dụng: Chuyên viên chăm sóc khách hàng.

10.2. Chuyên viên

- Mã số: 01.003. 

- Số lượng cần tuyển: 01.

- Yêu cầu tiêu chuẩn tuyển dụng:

+ Chuyên môn nghiệp vụ: Đại học chuyên ngành Quản trị tài chính kế toán.

+ Ngoại ngữ: Bậc 2 (A2) hoặc tương đương.

+ Tin học: Cơ bản hoặc tương đương.

- Vị trí công tác cần tuyển dụng: Chuyên viên kế hoạch.


     Thống kê người dùng
  Đang online:               79
  Số lượt truy cập: 11487365
Báo Bình Định
VTC News
Đài Truyền hình Việt Nam
Ban Thanh thiếu niên - Đài THVN
Radio Viet nam
So noi vu
So ke hoach
 
BẢN QUYỀN THUỘC VỀ ĐÀI PHÁT THANH & TRUYỀN HÌNH BÌNH ĐỊNH
Địa chỉ: 23 Mai Xuân Thưởng, Thành phố Quy Nhơn, Bình Định
Điện thoại: (056) 3822735 - Fax: (056) 3824718 - Email: btv@binhdinhtv.vn
Giấy phép thiết lập Website số 246/GP-TTĐT do Cục Quản lý phát thanh,
truyền hình và TTĐT - Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 26/10/2010.
Chịu trách nhiệm nội dung: PHẠM VĨNH THÁI, Giám đốc